Theo Nghị định, những TCTD được coi là lâm vào tình trạng phá sản phải là những TCTD không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, sau khi Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam đã có văn bản không áp dụng hoặc chấm dứt áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán hoặc chấm dứt áp dụng kiểm soát đặc biệt (tức TCTD chịu sự kiểm soát trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam do có nguy cơ mất khả năng thanh toán, tri trả).
Những người có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản gồm: Chủ nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần của TCTD; Người lao động làm việc trong TCTD; Chủ sở hữu của TCTD Nhà nước, cổ đông của TCTD cổ phần. Đại diện hợp pháp của TCTD có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi nhận thấy tổ chức mình lâm vào tình trạng phá sản. Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, mọi hoạt động kinh doanh của TCTD phải chịu sự giám sát, kiểm tra của Thẩm phán và Tổ quản lý, thanh lý tài sản.
Kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, nghiêm cấm TCTD thực hiện các hoạt động như: Cất giấu, tẩu tán tài sản; thanh toán nợ không có bảo đảm; từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ; chuyển các khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp. Khi nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, các hoạt động của TCTD như cầm cố, thế chấp, chuyển nhượng, bán, tặng cho, cho thuê tài sản; vay tiền; bán, chuyển đổi cổ phần; thanh toán các khoản nợ mới phát sinh và trả lương cho người lao động phải được sự đồng ý bằng văn bản của Thẩm phán tòa án thực hiện thủ tục phá sản trước khi thực hiện.
Triệu Đô |